Lấn chiếm đất công không chỉ là hành vi sử dụng trái phép phần đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý mà còn là nguyên nhân âm ỉ gây thất thoát ngân sách, phá vỡ quy hoạch và phát sinh tranh chấp kéo dài.

Từ việc dựng công trình tạm, mở rộng ranh đất ở đến sử dụng đất công sai mục đích, mỗi vi phạm đều có thể kéo theo những hệ quả pháp lý nghiêm trọng mà nhiều người chỉ nhận ra khi đã nhận quyết định xử phạt hoặc buộc khôi phục hiện trạng.

Vậy đâu là ranh giới giữa sử dụng đất hợp pháp và lấn chiếm? Ai có thẩm quyền xử lý, mức phạt có thể lên đến đâu, và người dân cần làm gì khi phát hiện đất công bị chiếm dụng? Bài viết sẽ giúp bạn nhận diện đúng bản chất của hành vi lấn chiếm đất công, hiểu rõ trách nhiệm pháp lý liên quan và biết cách bảo vệ quyền lợi của mình trước những tình huống thực tế phức tạp.

Lấn Chiếm Đất Công Là Gì? Phân Biệt Lấn Đất Và Chiếm Đất

“Lấn chiếm đất công” không phải một thuật ngữ pháp lý duy nhất, mà là cách gọi chung cho hai hành vi khác nhau: lấn đất và chiếm đất, khi đối tượng bị tác động là đất do Nhà nước quản lý (thường gọi là đất công).

Theo Luật Đất đai (Luật số 31/2024/QH15, do Quốc hội ban hành ngày 18/01/2024, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2024 theo Luật số 43/2024/QH15 ngày 29/6/2024 điều chỉnh sớm thời điểm hiệu lực) và các văn bản sửa đổi, bổ sung, lấn đất và chiếm đất được định nghĩa tách bạch tại Điều 3, còn nhóm đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý được quy định tại Điều 217.

lan-chiem-dat-cong-la-gi

Lấn đất là gì

Theo khoản 31 Điều 3 Luật Đất đai 2024, lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.

Bản chất pháp lý của lấn đất là hành vi dịch chuyển mốc giới hoặc ranh giới để mở rộng diện tích sử dụng. Không nên hiểu máy móc rằng người thực hiện nhất thiết phải có Giấy chứng nhận hoặc đã được xác lập đầy đủ quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất gốc.

Điểm dễ gây hiểu nhầm là nhiều người cho rằng chỉ cần “đất bỏ trống” thì có thể tự dịch mốc giới sang sử dụng, trong khi luật không đặt điều kiện đất đó có đang được sử dụng hay không, mà xét đến việc có được cơ quan có thẩm quyền hoặc người sử dụng hợp pháp cho phép hay không.

Chiếm đất là gì

Theo khoản 9 Điều 3 Luật Đất đai 2024, chiếm đất là việc sử dụng đất do Nhà nước đã quản lý mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, hoặc sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp khác mà chưa được người đó cho phép.

Khác với lấn đất, chiếm đất không tập trung vào việc dịch chuyển ranh giới của thửa đất đang sử dụng, mà vào việc trực tiếp sử dụng đất do Nhà nước đã quản lý hoặc đất của người sử dụng hợp pháp khác khi chưa được phép. Trong phạm vi bài viết này, trường hợp liên quan “đất công” chủ yếu là phần đất do Nhà nước đã quản lý.

Phân biệt lấn đất và chiếm đất

Tiêu chíLấn đấtChiếm đất
Căn cứ pháp lýKhoản 31 Điều 3 Luật Đất đai 2024Khoản 9 Điều 3 Luật Đất đai 2024
Điểm xuất phátĐang sử dụng một thửa đất và chuyển dịch mốc giới, ranh giới để mở rộng diện tích sử dụngTrực tiếp sử dụng đất do Nhà nước đã quản lý hoặc đất của người khác khi chưa được phép
Hành vi cụ thểDịch chuyển mốc giới, ranh giới thửa đấtSử dụng trực tiếp diện tích đất do Nhà nước quản lý hoặc của người khác
Điều kiện vi phạmKhông được cơ quan có thẩm quyền hoặc người sử dụng hợp pháp cho phépKhông được cơ quan có thẩm quyền hoặc người sử dụng hợp pháp cho phép

Sự khác biệt cốt lõi nằm ở cách thức thực hiện hành vi: lấn đất gắn với việc chuyển dịch mốc giới, ranh giới để mở rộng diện tích sử dụng, còn chiếm đất gắn với việc trực tiếp sử dụng phần đất do Nhà nước đã quản lý hoặc đất của người khác khi chưa được phép. Việc xác định đúng là lấn đất hay chiếm đất có ý nghĩa quan trọng khi cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm, vì căn cứ áp dụng và cách xác định phạm vi diện tích vi phạm ở hai hành vi có thể khác nhau.

Đất công gồm những loại đất nào

Pháp luật đất đai hiện hành không dùng “đất công” như một khái niệm duy nhất để áp dụng chung cho mọi trường hợp mà quy định nhóm “đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý” tại Điều 217 Luật Đất đai 2024. Khoản 1 Điều 217 liệt kê nhiều nhóm; một số nhóm thường gặp gồm:

Nhóm đấtCăn cứ
Đất sử dụng vào mục đích công cộngĐiểm a khoản 1 Điều 217
Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối, ao, hồ, đầm, pháĐiểm b khoản 1 Điều 217
Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng, cơ sở lưu giữ tro cốtĐiểm c khoản 1 Điều 217
Đất có mặt nước chuyên dùngĐiểm d khoản 1 Điều 217
Đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuấtĐiểm đ khoản 1 Điều 217
Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấnĐiểm i khoản 1 Điều 217
Đất chưa sử dụngĐiểm k khoản 1 Điều 217

Ngoài các nhóm trên, khoản 1 Điều 217 còn quy định đất do Nhà nước thu hồi và giao tổ chức phát triển quỹ đất quản lý; một số diện tích đất thu hồi giao Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý; và đất giao lại, chuyển quyền sử dụng đất của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao trong trường hợp luật định.

Vì vậy, khi xác định một khu vực người dân thường gọi là “đất công”, cần đối chiếu hồ sơ quản lý và đúng nhóm đất cụ thể; vỉa hè, hành lang bảo vệ công trình giao thông hoặc khu vực bảo vệ chuyên ngành còn có thể chịu quy định chuyên ngành riêng.

Nếu bạn gặp trường hợp hàng xóm lấn đất đã làm nhà có đòi được không hãy đọc bài viết này để có hướng giải quyết một cách tốt nhất.

Cách nhận diện hành vi lấn chiếm đất công trên thực tế

Việc một hành vi có bị xác định là lấn đất hoặc chiếm đất đối với đất do Nhà nước quản lý hay không thường được căn cứ vào hồ sơ địa chính, văn bản giao đất để quản lý và hiện trạng thực tế. Đây là các tài liệu quan trọng để xác định ranh giới, mục đích sử dụng và cơ quan chịu trách nhiệm quản lý phần đất đó.

Hai dạng biểu hiện thường gặp là xây dựng công trình vượt ranh giới thửa đất vào phần đất do Nhà nước quản lý, hoặc dựng rào chắn, sử dụng ổn định một phần đất do Nhà nước quản lý như tài sản riêng. Đây chỉ là mô tả dạng hành vi mang tính khái quát dựa trên cấu trúc quy định của luật, không phải trích dẫn một vụ việc cụ thể nào.

Việc xác định chính xác một trường hợp cụ thể có cấu thành lấn đất, chiếm đất hay không cần đối chiếu hồ sơ địa chính thực tế của từng khu đất, nên người đọc gặp tình huống tương tự nên tham khảo ý kiến của tổ chức hành nghề luật có chuyên môn về đất đai, như Luật Quang Duy, để được xem xét trên hồ sơ cụ thể trước khi đưa ra quyết định xử lý.

Mức Xử Phạt Lấn Chiếm Đất Công Theo Nghị Định 123/2024/NĐ-CP

Hành vi lấn, chiếm đất do cơ quan, tổ chức Nhà nước đã quản lý có thể bị xử phạt theo Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP theo diện tích vi phạm, kèm biện pháp khắc phục hậu quả. Riêng các trường hợp thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực.

Đất xây dựng công trình, khu vực có hành lang bảo vệ an toàn; đất trụ sở làm việc và cơ sở hoạt động sự nghiệp thuộc phạm vi khoản 7 Điều 13 thì phải ưu tiên đối chiếu quy định xử phạt chuyên ngành; nếu pháp luật chuyên ngành không quy định xử phạt thì mới xử phạt theo Nghị định này. Trường hợp đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 228 Bộ luật Hình sự, người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ pháp lý áp dụng là Nghị định số 123/2024/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 04/10/2024, có hiệu lực thi hành từ ngày 04/10/2024, thay thế Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Bảng mức phạt theo diện tích và khu vực

Khoản 1 Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định mức phạt riêng cho hành vi lấn đất hoặc chiếm đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước đã quản lý, thể hiện trong hồ sơ địa chính hoặc văn bản giao đất để quản lý. Bảng dưới đây áp dụng cho trường hợp thuộc khoản 1, không thuộc trường hợp phải xử phạt theo pháp luật chuyên ngành tại khoản 7 Điều 13. Mức phạt tại xã dưới đây là mức đối với cá nhân:

Diện tích lấn, chiếmMức phạt tại xã (cá nhân)Mức phạt tại phường, thị trấn (cá nhân) theo quy định đang có hiệu lực ngày 19/08/2026
Dưới 0,02 héc ta3.000.000 – 5.000.000 đồng6.000.000 – 10.000.000 đồng
Từ 0,02 đến dưới 0,05 héc ta5.000.000 – 10.000.000 đồng10.000.000 – 20.000.000 đồng
Từ 0,05 đến dưới 0,1 héc ta10.000.000 – 20.000.000 đồng20.000.000 – 40.000.000 đồng
Từ 0,1 đến dưới 0,5 héc ta20.000.000 – 50.000.000 đồng40.000.000 – 100.000.000 đồng
Từ 0,5 đến dưới 01 héc ta50.000.000 – 100.000.000 đồng100.000.000 – 200.000.000 đồng
Từ 01 đến dưới 02 héc ta100.000.000 – 150.000.000 đồng200.000.000 – 300.000.000 đồng
Từ 02 héc ta trở lên150.000.000 – 200.000.000 đồng300.000.000 – 400.000.000 đồng

Theo khoản 6 Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP đang có hiệu lực tại ngày 19/08/2026, hành vi lấn đất hoặc chiếm đất thuộc địa giới hành chính của phường, thị trấn bị phạt bằng 02 lần mức xử phạt của loại đất tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 áp dụng tại xã, đồng thời mức phạt tối đa không quá 500.000.000 đồng đối với cá nhân và không quá 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức.

Đây là cơ chế nhân đôi mức phạt theo địa bàn được quy định trực tiếp tại khoản 6; không nên suy diễn nguyên nhân của mức nhân đôi nếu không có căn cứ giải thích chính thức.

Lưu ý cập nhật theo thời điểm: Nghị định 281/2026/NĐ-CP đã được ban hành ngày 13/07/2026 nhưng đến ngày 19/08/2026 chưa có hiệu lực; nghị định có hiệu lực từ ngày 31/08/2026. Từ thời điểm đó, cụm từ “, thị trấn” tại khoản 6 Điều 13 được bãi bỏ, vì vậy bài viết cần được đọc theo đúng thời điểm xảy ra hành vi và thời điểm áp dụng pháp luật.

Riêng khoản 2 Điều 5 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm. Như vậy, một tổ chức lấn chiếm đất thuộc khoản 1 với diện tích từ 02 héc ta trở lên tại khu vực xã có thể bị phạt từ 300.000.000 đến 400.000.000 đồng; nếu thuộc địa bàn áp dụng khoản 6 thì mức phạt được xác định theo cơ chế nhân đôi và giới hạn tối đa 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức.

Biện pháp khắc phục hậu quả đi kèm

Phạt tiền không phải là chế tài duy nhất. Khoản 8 Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, bao gồm cả việc khôi phục ranh giới và mốc giới thửa đất, trừ trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc thuộc trường hợp được tạm thời sử dụng đất cho đến khi Nhà nước thu hồi theo quy định tại Điều 139 Luật Đất đai và chính khoản này. Người vi phạm còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

Đối với hành vi lấn đất, chiếm đất, số lợi bất hợp pháp được xác định theo công thức pháp luật quy định, trong đó có các yếu tố diện tích đất vi phạm, giá đất trong bảng giá đất và thời gian vi phạm. Vì vậy, không nên tự tính nghĩa vụ phải nộp chỉ bằng một phép nhân đơn giản nếu chưa xác định đúng loại đất, giá đất và thời gian vi phạm theo hồ sơ xử phạt.

Điểm cần lưu ý: việc nộp phạt xong không đồng nghĩa với việc đương nhiên được tiếp tục sử dụng đất đã lấn, chiếm. Biện pháp khắc phục hậu quả vẫn được áp dụng theo khoản 8 Điều 13; việc có phải di dời, tháo dỡ phần công trình để khôi phục tình trạng ban đầu hay không phải căn cứ vào nội dung quyết định xử lý và trường hợp pháp luật cụ thể, không nên mặc định mọi vụ việc đều được “hợp thức hóa” sau khi nộp phạt.

Từ xử phạt hành chính đến trách nhiệm hình sự

Pháp luật không xác định trách nhiệm hình sự chỉ dựa vào diện tích đất lấn, chiếm lớn hay nhỏ. Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung, quy định người lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái quy định pháp luật, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung hình phạt tăng nặng tại khoản 2 Điều 228 áp dụng khi hành vi thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức, phạm tội từ 02 lần trở lên, hoặc tái phạm nguy hiểm. Trong các trường hợp này, mức phạt tiền là từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Có thể hiểu theo trình tự thực tế rằng một hành vi lấn, chiếm trước hết có thể bị xử lý hành chính nếu chưa đủ dấu hiệu tội phạm. Nếu sau đó người vi phạm tiếp tục thực hiện hành vi trong điều kiện Điều 228 quy định, việc đã từng bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án có thể trở thành một dấu hiệu quan trọng để xem xét trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, không nên kết luận tự động rằng cứ vi phạm lần sau là đương nhiên cấu thành tội phạm; cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải đối chiếu đầy đủ các dấu hiệu của Điều 228 và hồ sơ cụ thể.

Hiểu lầm phổ biến cần tránh

Người dân thường có hai nhận định sai lệch về chủ đề này.

Thứ nhất, nhiều người cho rằng chỉ cần nộp phạt là coi như xong nghĩa vụ và có thể tiếp tục sử dụng phần đất đã lấn, chiếm. Điều này không đúng, vì khoản 8 Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP còn quy định các biện pháp khắc phục hậu quả, trong đó có buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất, trừ trường hợp luật định.

Thứ hai, nhiều người nghĩ hành vi lấn chiếm đất công chỉ dừng ở mức xử phạt hành chính, không thể bị xử lý hình sự nếu diện tích không quá lớn. Thực tế, Điều 228 Bộ luật Hình sự không đặt một ngưỡng diện tích tối thiểu duy nhất để tự động xác định tội phạm; phải đối chiếu các dấu hiệu của điều luật, trong đó có điều kiện về việc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Lưu ý thực tế từ Luật sư

Về việc xác định mức phạt cụ thể, diện tích đất vi phạm được xác định theo bản đồ địa chính hoặc do người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính xác định tại thời điểm phát hiện theo Điều 7 Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Sai lệch trong khâu đo đạc, xác định ranh giới có thể dẫn đến tranh chấp về mức phạt áp dụng, vì chênh lệch diện tích có thể làm thay đổi khung phạt.

Về việc xác định địa bàn áp dụng, đây là yếu tố có thể ảnh hưởng mức phạt theo khoản 6 Điều 13. Người bị lập biên bản cần đối chiếu địa giới hành chính thực tế và quy định có hiệu lực tại thời điểm áp dụng; đặc biệt cần lưu ý Nghị định 281/2026/NĐ-CP sẽ có hiệu lực từ ngày 31/08/2026 và thay đổi cách thể hiện đối với “thị trấn” trong khoản 6.

Về nguy cơ hình sự hóa, nếu đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi thuộc phạm vi Điều 228 hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích, việc tiếp tục có hành vi vi phạm cần được đánh giá rất thận trọng. Không nên tự suy luận rằng vi phạm ở một thửa đất khác hoặc diện tích khác chắc chắn cấu thành tội phạm; phải xem xét đúng hành vi, quyết định xử phạt hoặc bản án trước đó và toàn bộ dấu hiệu pháp lý của vụ việc.

Hiện chưa có nguồn dữ liệu chính thức, công khai và có thể xác minh về số lượng vụ việc cụ thể bị xử phạt hoặc bị truy cứu hình sự theo hai văn bản trên tính đến thời điểm hiện tại, nên bài viết không đưa ra số liệu thống kê hoặc tình huống thực tế cụ thể để tránh sai lệch thông tin cho người đọc. Trường hợp cần đối chiếu với một vụ việc cụ thể, người sử dụng đất nên căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính và quyết định xử phạt do người có thẩm quyền ban hành để xác định chính xác mức phạt áp dụng cho tình huống của mình.

Nếu bạn đã nhận biên bản hoặc quyết định xử phạt về lấn, chiếm đất do Nhà nước quản lý và chưa rõ mức phạt, biện pháp khắc phục hoặc thẩm quyền ban hành có đúng hay không, có thể liên hệ Luật Quang Duy qua Hotline 0367.996.696 để rà soát hồ sơ trước khi thực hiện quyền giải trình, khiếu nại hoặc các bước pháp lý tiếp theo.

Cách Tố Cáo Và Xử Lý Khi Phát Hiện Lấn Chiếm Đất Công

Khi phát hiện hành vi lấn, chiếm đất do Nhà nước quản lý, người dân có thể phản ánh, kiến nghị đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh và xử lý theo quy định.

Nếu người dân cho rằng có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có trách nhiệm quản lý, ví dụ cố ý không xử lý trái quy định, thì có thể thực hiện quyền tố cáo theo Luật Tố cáo hiện hành; thẩm quyền giải quyết tố cáo phụ thuộc vào người, cơ quan hoặc tổ chức bị tố cáo, không phải cứ “không được giải quyết” là tự động tố cáo lên một cấp cố định.

Quy trình xử lý vi phạm hành chính về cơ bản gồm tiếp nhận thông tin, xác minh, lập biên bản khi thuộc trường hợp phải lập biên bản, ra quyết định xử phạt kèm biện pháp khắc phục hậu quả và cưỡng chế thi hành nếu đủ điều kiện.

Căn cứ trách nhiệm xử lý của chính quyền địa phương

Theo Điều 241 Luật Đất đai số 31/2024/QH15 và các quy định phân định thẩm quyền hiện hành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo thẩm quyền đối với hành vi lấn đất, chiếm đất trên địa bàn. Quy định này đặt trách nhiệm chủ động lên chính quyền cơ sở, đồng thời tạo cơ sở để người dân phản ánh, kiến nghị về sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai.

Quy trình xử lý từ phản ánh đến cưỡng chế

  1. Người dân phản ánh, kiến nghị đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất và cung cấp thông tin, tài liệu hiện có về vị trí, hiện trạng vi phạm.
  2. Cơ quan, công chức hoặc người có thẩm quyền kiểm tra, xác minh hiện trạng đất, đối chiếu hồ sơ quản lý.
  3. Khi phát hiện hành vi vi phạm thuộc trường hợp phải lập biên bản, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính và chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt nếu cần.
  4. Người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định; nếu người vi phạm không tự nguyện chấp hành và đủ điều kiện cưỡng chế thì tổ chức cưỡng chế thi hành.

Bước lập biên bản được thực hiện theo Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung, trong đó có Luật số 88/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản theo Điều 56.

Biên bản và các tài liệu liên quan là thành phần quan trọng của hồ sơ xử phạt; sai sót về thẩm quyền, nội dung hoặc trình tự lập biên bản có thể ảnh hưởng đến tính hợp pháp của việc xử phạt và cần được xem xét theo hồ sơ cụ thể.

Thẩm quyền xử phạt hiện nay và thay đổi từ ngày 31/08/2026

Bài viết cần đặc biệt lưu ý rằng thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hiện nay không còn dừng ở mức 5.000.000 đồng như quy định ban đầu của Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Từ ngày 01/07/2025, Nghị định 189/2025/NĐ-CP quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa của lĩnh vực tương ứng tại Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Luật số 88/2025/QH15 xác định mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực đất đai là 500.000.000 đồng, nên mức thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong lĩnh vực đất đai hiện là 250.000.000 đồng; đối với tổ chức, thẩm quyền phạt tiền được xác định theo nguyên tắc gấp 02 lần thẩm quyền đối với cá nhân.

Nghị định 281/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 31/08/2026 sửa trực tiếp khoản 1 Điều 30 Nghị định 123/2024/NĐ-CP theo hướng ghi nhận Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền phạt tiền đến 250.000.000 đồng đối với cá nhân, qua đó đồng bộ quy định chuyên ngành đất đai với khung thẩm quyền đã được xác lập theo pháp luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì vậy, tại ngày cập nhật 19/08/2026, không đúng nếu cho rằng mọi vụ có mức phạt trên 5.000.000 đồng đều phải chuyển lên cấp tỉnh.

Nếu người vi phạm không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, việc cưỡng chế được thực hiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính và quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.

Biện pháp cưỡng chế phải phù hợp với nghĩa vụ chưa chấp hành; đối với nghĩa vụ tiền phạt có thể có các biện pháp thu tiền theo luật, còn đối với nghĩa vụ khắc phục hậu quả về đất đai có thể áp dụng cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quyết định có thẩm quyền.

Khi phản ánh không được xử lý

Hành vi lấn, chiếm đất do Nhà nước quản lý là hành vi có thể thuộc phạm vi quản lý nhà nước về đất đai. Điều 231 Luật Đất đai 2024 ghi nhận công dân có quyền giám sát, phản ánh và yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai; Điều 241 quy định trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm.

Nếu cá nhân cho rằng người có trách nhiệm quản lý có hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ, việc tố cáo được thực hiện theo Luật Tố cáo hiện hành đã được sửa đổi bởi Luật số 136/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.

Thẩm quyền không được xác định đơn giản bằng công thức “cấp trên trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp xã”: ví dụ, tố cáo hành vi vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; với cán bộ, công chức hoặc cơ quan khác phải xác định theo đúng chủ thể bị tố cáo và quy định tương ứng.

Chuẩn bị hồ sơ trước khi phản ánh hoặc tố cáo

Đây là lưu ý thực tiễn, không phải toàn bộ đều là thành phần hồ sơ bắt buộc trong mọi trường hợp, nhưng tài liệu cụ thể có thể giúp cơ quan chức năng xác minh nhanh và chính xác hơn.

  • Hình ảnh, video hiện trạng đất tại thời điểm phát hiện vi phạm, ghi rõ ngày chụp nếu có thể.
  • Thông tin về vị trí, diện tích khu đất và loại đất do Nhà nước quản lý liên quan, nếu người phản ánh có thể xác định.
  • Bản đồ địa chính hoặc trích lục hồ sơ địa chính khu vực đó, nếu đã từng tiếp cận được.
  • Nội dung đơn phản ánh, kiến nghị hoặc đơn tố cáo ghi rõ thời gian, địa điểm, hành vi và thông tin người có liên quan nếu biết.
  • Bản sao các văn bản phản ánh trước đó và phản hồi của cơ quan chức năng, nếu đã từng phản ánh mà chưa được xử lý.

Hai tình huống giả định minh họa

Hai tình huống dưới đây là giả định minh họa, không dựa trên vụ việc thực tế cụ thể nào, chỉ nhằm giúp người đọc hình dung cách áp dụng quy trình nêu trên.

Tình huống thứ nhất liên quan đến đất nông nghiệp công ích do xã quản lý. Một hộ dân dựng hàng rào mở rộng phần đất canh tác sang phần đất công ích liền kề. Người phát hiện phản ánh đến Ủy ban nhân dân cấp xã kèm hình ảnh hàng rào và vị trí khu đất. Cơ quan có thẩm quyền xác minh, đối chiếu với hồ sơ địa chính, lập biên bản nếu xác định có vi phạm và người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt kèm biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Tình huống thứ hai liên quan đến vỉa hè. Một hộ kinh doanh dựng công trình cố định lấn ra phần vỉa hè. Người dân xung quanh phản ánh đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có khu vực vi phạm.

Trước khi áp dụng trực tiếp Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền phải xác định phần đất, hành vi có thuộc trường hợp tại khoản 7 Điều 13 và pháp luật xử phạt chuyên ngành về hành lang, công trình giao thông hoặc lĩnh vực liên quan hay không; chỉ khi pháp luật chuyên ngành không quy định xử phạt mới áp dụng Nghị định 123/2024/NĐ-CP theo khoản 7.

Hiểu lầm phổ biến cần tránh

Một hiểu lầm thường gặp là chỉ cơ quan nhà nước mới có quyền phát hiện và xử lý hành vi lấn chiếm đất công, người dân không có vai trò gì trong quá trình này. Thực tế, Điều 231 Luật Đất đai 2024 ghi nhận công dân có quyền giám sát, phản ánh và yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai; Điều 241 quy định trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong phát hiện và xử lý vi phạm.

Một hiểu lầm khác là người phản ánh bắt buộc phải có đủ chứng cứ về diện tích, ranh giới và toàn bộ hồ sơ đất thì cơ quan mới được xử lý. Trên thực tế, người dân nên cung cấp thông tin, hình ảnh và tài liệu mình có để hỗ trợ xác minh, nhưng việc kiểm tra hiện trạng, đối chiếu hồ sơ quản lý và lập biên bản vi phạm thuộc trách nhiệm của người, cơ quan có thẩm quyền. Phản ánh càng cụ thể về vị trí và hiện trạng thì việc xác minh càng thuận lợi.

Lưu ý thực tế từ Luật sư

Việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận phản ánh là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ xử lý vụ việc. Một sai sót thường gặp là gửi phản ánh đến cơ quan không quản lý trực tiếp hoặc không có chức năng xử lý nội dung đó, dẫn đến việc hồ sơ phải được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền.

Một điểm đặc biệt cần lưu ý tại thời điểm hiện tại là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đã có thẩm quyền phạt tiền đến 250.000.000 đồng đối với cá nhân trong lĩnh vực đất đai theo cơ chế của Nghị định 189/2025/NĐ-CP và Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi.

Do đó, không còn phù hợp nếu tiếp tục áp dụng nhận định rằng trước ngày 31/08/2026 cấp xã chỉ được phạt tối đa 5.000.000 đồng. Nghị định 281/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 31/08/2026 sẽ sửa trực tiếp Điều 30 Nghị định 123/2024/NĐ-CP để đồng bộ mức 250.000.000 đồng.

Việc lưu giữ đầy đủ văn bản phản ánh, biên nhận và các phản hồi từ cơ quan chức năng cũng có ý nghĩa nếu sau này cần thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo hoặc chứng minh quá trình đã cung cấp thông tin. Tuy nhiên, thẩm quyền giải quyết tố cáo phải xác định theo đúng người hoặc cơ quan bị tố cáo theo Luật Tố cáo hiện hành, không mặc định luôn là “cấp trên trực tiếp của UBND cấp xã”.

Hiện chưa có nguồn dữ liệu chính thức, công khai và có thể xác minh về thời gian xử lý trung bình hoặc tỷ lệ các vụ việc phản ánh lấn chiếm đất công được giải quyết dứt điểm ở cấp xã, nên bài viết không đưa ra số liệu thống kê cụ thể về vấn đề này.

Bài viết này thuộc nội dung phổ biến pháp luật do Luật Quang Duy biên soạn, mang tính chất tham khảo chung và không thay thế cho việc tư vấn pháp lý cho từng trường hợp cụ thể. Với các vụ việc phức tạp, có tranh chấp về diện tích, ranh giới hoặc liên quan đến nhiều cơ quan quản lý, người đọc nên trao đổi trực tiếp với luật sư hoặc cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để được hướng dẫn phù hợp với hồ sơ thực tế.

Kết Luận

Lấn chiếm đất do cơ quan, tổ chức Nhà nước quản lý có thể bị xử phạt tiền theo diện tích, loại trường hợp và địa bàn áp dụng theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP, kèm biện pháp khắc phục hậu quả; riêng trường hợp thuộc khoản 7 Điều 13 còn phải đối chiếu quy định xử phạt chuyên ngành. Khi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu tại Điều 228 Bộ luật Hình sự, trong đó có điều kiện về việc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khi phát hiện vi phạm, người dân có quyền phản ánh, kiến nghị đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất hoặc cơ quan có thẩm quyền; nếu phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì có thể thực hiện quyền tố cáo theo Luật Tố cáo và đúng thẩm quyền đối với chủ thể bị tố cáo.

Mỗi vụ việc thực tế có thể khác nhau về diện tích, địa bàn hành chính, thời điểm vi phạm và tình trạng hồ sơ đất đai, nên mức phạt cụ thể và hướng xử lý cần được đối chiếu với biên bản, quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Nếu cần rà soát một tình huống cụ thể liên quan đến lấn chiếm đất công, chuẩn bị hồ sơ phản ánh hoặc đánh giá rủi ro pháp lý trước khi xử lý, bạn có thể liên hệ Luật Quang Duy qua hotline 0367.996.696 để được hỗ trợ tư vấn phù hợp với hồ sơ và tình trạng đất đai của mình.

5/5 - (1 bình chọn)
luat-su-tuong-long

Luật Sư Tưởng Hữu Long, thuộc Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội, mang đến 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn pháp luật. Với kiến thức sâu rộng và sự tận tâm trong công việc, ông đã hỗ trợ và đồng hành cùng nhiều khách hàng trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý phức tạp. Ông là người sáng lập và điều hành Công Ty Luật Quang Duy, một trong những đơn vị tư vấn pháp lý hàng đầu tại Việt Nam với bề dày 10 năm kinh nghiệm trong ngành. Sự chuyên nghiệp và uy tín của Luật Sư Tưởng Hữu Long đã giúp ông trở thành một chuyên gia đáng tin cậy, luôn sẵn sàng bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của khách hàng.. Twitter – Linkedin — Pinterest