Mua bán đất công chứng sang tên rồi vẫn bị kiện đòi lại là tình huống khiến không ít người mua rơi vào tâm lý hoang mang: hợp đồng đã được công chứng, sổ đỏ đã hoàn tất thủ tục sang tên, tiền cũng đã thanh toán đầy đủ, vậy vì sao giao dịch vẫn có thể bị khởi kiện và nguy cơ mất đất vẫn tồn tại?
Trên thực tế, công chứng và đăng ký biến động quyền sử dụng đất là những lớp bảo đảm pháp lý rất quan trọng, nhưng không phải “lá chắn tuyệt đối” cho mọi giao dịch. Một thửa đất đã sang tên vẫn có thể trở thành đối tượng tranh chấp nếu phía bán không có đầy đủ quyền định đoạt, hồ sơ có dấu hiệu giả tạo hoặc bị lừa dối, tài sản chung bị tự ý chuyển nhượng, thừa kế chưa được phân chia hợp pháp, hoặc giao dịch vi phạm điều kiện pháp luật bắt buộc.
Khi đó, vấn đề không chỉ là ai đang đứng tên trên Giấy chứng nhận, mà còn là nguồn gốc quyền sử dụng đất, tính hợp pháp của ý chí giao kết và tình trạng pháp lý thực tế của tài sản tại thời điểm mua bán.
Bài viết sẽ giúp bạn nhận diện những căn cứ thường khiến giao dịch đất đã công chứng, sang tên vẫn bị kiện đòi lại; đánh giá quyền lợi của người mua ngay tình, đặc biệt trong trường hợp có người thứ ba ngay tình; đồng thời chỉ ra cách xử lý và các biện pháp phòng ngừa cần thực hiện trước khi đặt bút ký hợp đồng.
5 Nguyên Nhân Khiến Hợp Đồng Đất Đã Công Chứng Vẫn Bị Tòa Tuyên Vô Hiệu
Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch dân sự bằng văn bản theo Luật Công chứng 2024, nhưng không đồng nghĩa giao dịch đương nhiên được miễn khỏi việc Tòa án xem xét hiệu lực nếu sau đó phát sinh căn cứ cho rằng giao dịch vi phạm điều kiện có hiệu lực theo pháp luật dân sự.
Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (Quốc hội ban hành ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), một giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đủ điều kiện về chủ thể, sự tự nguyện và mục đích, nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Hình thức của giao dịch cũng là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp luật có quy định.
Nếu hợp đồng đã công chứng nhưng không đáp ứng một trong các điều kiện tại Điều 117, giao dịch có thể vô hiệu theo Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác. Dưới đây là năm nhóm nguyên nhân thường dẫn đến hệ quả này.

1. Chủ thể tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dân sự phù hợp
Điểm a khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu chủ thể tham gia giao dịch phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập. Nếu bên chuyển nhượng là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tự mình xác lập.
Thực hiện giao dịch trong trường hợp pháp luật yêu cầu phải do người đại diện xác lập, thực hiện hoặc đồng ý thì theo yêu cầu của người đại diện, Tòa án có thể tuyên giao dịch vô hiệu theo Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015, trừ các trường hợp tại khoản 2 Điều này.
Điểm dễ gây hiểu nhầm ở đây là nhiều người cho rằng công chứng viên đã kiểm tra giấy tờ tùy thân thì đương nhiên chủ thể đủ điều kiện. Thực tế, công chứng viên không chỉ kiểm tra giấy tờ nhân thân.
Khi có căn cứ nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự, sự tự nguyện hoặc vấn đề chưa rõ trong hồ sơ, công chứng viên có thể yêu cầu làm rõ, tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định theo Luật Công chứng 2024. Tuy nhiên, việc giao dịch đã được công chứng không tạo ra sự miễn trừ khỏi việc Tòa án xem xét chứng cứ về năng lực hành vi của chủ thể nếu tranh chấp phát sinh.
2. Hợp đồng bị coi là giả tạo khi giá ghi trong hợp đồng công chứng khác giá thực tế
Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu. Việc cố ý ghi một mức giá không phản ánh thỏa thuận thực tế nhằm che giấu giá hoặc giao dịch thực tế và giảm nghĩa vụ thuế có thể bị xem xét là giao dịch giả tạo theo Điều 124. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng cứ giá ghi trong hợp đồng thấp hơn giá thị trường thì toàn bộ hợp đồng đương nhiên vô hiệu.
Theo Quyết định giám đốc thẩm số 03/2020/DS-GĐT ngày 16/01/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hợp đồng công chứng ghi giá chuyển nhượng 200 triệu đồng; bên chuyển nhượng khai giá thực tế là 3,2 tỷ đồng, còn phía nhận chuyển nhượng trong quá trình tố tụng có nội dung cho rằng đã giao tổng cộng 2,2 tỷ đồng. Kết quả định giá xác định giá trị thị trường của phần đất khoảng 3,019 tỷ đồng.
Hội đồng Thẩm phán xác định mức giá 200 triệu đồng ghi trong hợp đồng là giả tạo; do các bên không thống nhất và không làm rõ được giá chuyển nhượng thực tế nên có căn cứ xem xét toàn bộ hợp đồng vô hiệu. Bài học rút ra là giá ghi trong hợp đồng nên phản ánh đúng thỏa thuận thực tế giữa các bên; nếu cố ý lập hai mức giá và khi tranh chấp không chứng minh được nội dung giao dịch thật thì rủi ro hợp đồng bị xem xét vô hiệu tăng đáng kể.
3. Chữ ký hoặc giấy tờ trong hồ sơ công chứng bị giả mạo
Khi chữ ký của bên chuyển nhượng bị giả mạo, người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thực sự thể hiện ý chí xác lập giao dịch, nên giao dịch có thể bị xem xét không đáp ứng điều kiện về chủ thể, sự tự nguyện tại Điều 117 và căn cứ vô hiệu tương ứng. Không nên mặc nhiên quy mọi trường hợp giả mạo chữ ký vào trường hợp giao dịch giả tạo theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015.
Một bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân TP Cần Thơ năm 2026 về tranh chấp yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu ghi nhận kết quả giám định xác định chữ ký, chữ viết và dấu vân tay trên hợp đồng không phải của người đứng tên chuyển nhượng.
Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên phần tuyên các hợp đồng vô hiệu do giả mạo chữ ký, nhưng không chấp nhận việc buộc Văn phòng công chứng bồi thường khoản 450 triệu đồng vì không chứng minh được quan hệ nhân quả giữa lỗi trong quy trình công chứng và khoản tiền bị mất. Giao dịch trong vụ án được công chứng năm 2022 nên trách nhiệm của tổ chức hành nghề công chứng được xem xét theo Luật Công chứng 2014.
Đối với hoạt động công chứng thuộc phạm vi Luật Công chứng 2024 từ ngày 01/07/2025, Điều 40 quy định tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại do lỗi của công chứng viên, nhân viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng khi có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm.
Trong trường hợp mua bán đất đã công chứng, sang tên nhưng vẫn phát sinh tranh chấp, người mua nên kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ và các bước đã thực hiện, đặc biệt là quy trình công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất .
4. Tài sản chuyển nhượng là tài sản chung nhưng thiếu sự đồng ý của đồng sở hữu
Nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản chung của nhiều người, việc định đoạt phải tuân theo quy định về tài sản chung và quyền định đoạt. Điều 213 và Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015 điều chỉnh sở hữu chung; đối với tài sản chung vợ chồng.
Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được sau khi kết hôn về nguyên tắc là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Điều 35 của Luật này quy định việc định đoạt bất động sản là tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.
Khi một người tự ý chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất là tài sản chung mà không có đầy đủ quyền định đoạt, giao dịch có thể phát sinh căn cứ xem xét hiệu lực tùy theo tình trạng sở hữu, phạm vi quyền của người ký, sự đồng ý hoặc đại diện của các chủ thể có quyền và các chứng cứ cụ thể.
Lưu ý thực tiễn là thông tin người đứng tên trên Giấy chứng nhận là căn cứ quan trọng trong hồ sơ công chứng, nhưng không phải yếu tố duy nhất được kiểm tra. Nếu tình trạng tài sản chung hoặc quyền của người khác đối với tài sản không được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ thì rủi ro tranh chấp sau này vẫn có thể phát sinh.
5. Giao dịch nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
Khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu. Khi một người đang có nghĩa vụ trả nợ hoặc nghĩa vụ thi hành án chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác nhằm né tránh việc kê biên, cưỡng chế tài sản, giao dịch có thể thuộc trường hợp giả tạo theo quy định trên nếu mục đích trốn tránh nghĩa vụ được chứng minh.
Bản chất pháp lý ở đây là pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người có quyền đối với nghĩa vụ trước hành vi lợi dụng hình thức chuyển nhượng để che giấu mục đích trốn tránh nghĩa vụ, chứ không phải mọi giao dịch có yếu tố chuyển nhượng gấp gáp đều bị coi là tẩu tán tài sản. Việc xác định mục đích tẩu tán tài sản phụ thuộc vào chứng cứ cụ thể của từng vụ việc và thuộc thẩm quyền đánh giá của Tòa án.
Bảng tổng hợp căn cứ pháp lý
| Nguyên nhân | Điều luật áp dụng | Hậu quả pháp lý |
| Chủ thể không có năng lực hành vi dân sự phù hợp | Điểm a khoản 1 Điều 117, Điều 125 BLDS 2015 | Có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu theo Điều 125 khi đáp ứng điều kiện áp dụng |
| Giả tạo về giá chuyển nhượng | Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015 | Có thể bị xác định là giả tạo; hiệu lực của giao dịch bị che giấu và toàn bộ hợp đồng phụ thuộc chứng cứ, căn cứ vô hiệu cụ thể |
| Giả mạo chữ ký, hồ sơ | Điểm a, b khoản 1 Điều 117 và căn cứ vô hiệu tương ứng; Điều 40 Luật Công chứng 2024 đối với trách nhiệm do lỗi công chứng trong các giao dịch thuộc phạm vi luật này | Giao dịch có thể vô hiệu; trách nhiệm bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng chỉ phát sinh khi có đủ căn cứ về lỗi, thiệt hại và quan hệ nhân quả |
| Tài sản chung thiếu sự đồng ý hoặc quyền định đoạt cần thiết | Điều 213, Điều 218 BLDS 2015; Điều 33, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đối với tài sản chung vợ chồng | Có thể phát sinh tranh chấp hoặc căn cứ xem xét hiệu lực do người chuyển nhượng không có đầy đủ quyền định đoạt |
| Tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ | Khoản 2 Điều 124 BLDS 2015 | Giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba vô hiệu |
Hiểu lầm phổ biến
Nhiều người cho rằng đã ký công chứng thì hợp đồng chắc chắn không thể bị tuyên vô hiệu. Điều này không đúng. Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch theo Luật Công chứng, nhưng việc đã được công chứng không ngăn cản Tòa án xem xét hiệu lực của giao dịch nếu sau đó có căn cứ và chứng cứ cho thấy giao dịch vi phạm điều kiện tại Điều 117 hoặc thuộc trường hợp vô hiệu cụ thể theo Bộ luật Dân sự.
Một hiểu lầm khác là cho rằng nếu công chứng viên có sai sót thì trách nhiệm hoàn toàn thuộc về tổ chức hành nghề công chứng và người mua hoặc người bán sẽ không chịu bất kỳ hậu quả nào. Thực tế, trách nhiệm đối với hiệu lực giao dịch và trách nhiệm bồi thường do hoạt động công chứng là hai vấn đề cần được xem xét riêng.
Vụ án tại Cần Thơ nêu trên cho thấy dù Tòa án xác định có vi phạm trong quy trình công chứng và giữ nguyên việc tuyên hợp đồng vô hiệu, cấp phúc thẩm vẫn không buộc Văn phòng công chứng bồi thường 450 triệu đồng vì không chứng minh được quan hệ nhân quả giữa lỗi công chứng và thiệt hại được yêu cầu.
Case study thực tế
Vụ việc tại TP.HCM được Tòa án nhân dân tối cao xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm tại Quyết định số 03/2020/DS-GĐT ngày 16/01/2020 cho thấy quá trình tố tụng phức tạp xoay quanh việc xác định giá chuyển nhượng thực tế khi hợp đồng công chứng chỉ ghi một phần nhỏ giá trị mà các bên thực sự tranh luận trong vụ án.
Vụ việc tại Cần Thơ nêu trên minh họa rủi ro một hợp đồng đã công chứng vẫn bị tranh chấp khi chữ ký, dấu vân tay và ý chí của chủ thể bị nghi ngờ, phải giám định. Cả hai vụ đều cho thấy việc xác định hiệu lực một hợp đồng đã công chứng có thể phụ thuộc rất lớn vào chứng cứ về ý chí, chủ thể, giá trị thực tế và diễn biến giao dịch.
Lưu ý thực tế từ luật sư
Từ các vụ việc nêu trên, có thể rút ra một số điểm cần lưu ý khi xác lập hoặc rà soát hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã qua công chứng.
- Giá ghi trong hợp đồng công chứng nên phản ánh đúng giá giao dịch thực tế đã thỏa thuận, vì việc cố ý ghi một giá khác với thỏa thuận thật có thể trở thành chứng cứ quan trọng khi xem xét giao dịch giả tạo.
- Cần kiểm tra tình trạng đồng sở hữu và quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất trước khi giao kết, đặc biệt với tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản có nhiều người có quyền.
- Việc công chứng không loại trừ hoàn toàn khả năng phát sinh tranh chấp về chữ ký, năng lực hành vi dân sự của chủ thể hoặc mục đích thực sự của giao dịch; các bên nên lưu giữ đầy đủ tài liệu chứng minh quá trình giao dịch và thanh toán.
Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức được xác minh về tỷ lệ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã công chứng bị Tòa án tuyên vô hiệu trên phạm vi toàn quốc, nên nội dung trên không đưa ra ước tính định lượng này.
Với các trường hợp có tranh chấp phức tạp về nguồn gốc đất, chữ ký hoặc tình trạng sở hữu chung, việc rà soát hồ sơ trước khi ký hoặc khi xảy ra tranh chấp nên có sự hỗ trợ của luật sư để đánh giá đúng căn cứ pháp lý áp dụng cho từng tình huống cụ thể. Luật Quang Duy có thể hỗ trợ rà soát hồ sơ và tư vấn hướng xử lý qua số điện thoại 0367.996.696 khi người đọc cần đánh giá một hợp đồng cụ thể.
Hợp Đồng Đất Bị Tuyên Vô Hiệu: Ai Mất, Ai Được Bồi Thường?
Khi một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị Tòa án tuyên vô hiệu, hợp đồng đó không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập theo khoản 1 Điều 131 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13.
Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường; riêng bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức thì không phải hoàn trả phần đó. Việc “ai mất, ai được bồi thường” trong từng vụ việc phụ thuộc vào tình trạng tài sản, lỗi, thiệt hại thực tế và việc có xuất hiện người thứ ba được pháp luật bảo vệ hay không, không có công thức chung áp dụng cho mọi trường hợp.
Bản chất pháp lý của việc khôi phục tình trạng ban đầu
Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
- Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.
Điểm cốt lõi của Điều 131 là khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả những gì đã nhận; vì vậy, hợp đồng vô hiệu không mặc nhiên đồng nghĩa bên nhận chuyển nhượng mất trắng tiền hoặc bên chuyển nhượng mất trắng đất. Yêu cầu bồi thường còn cần có căn cứ về lỗi, thiệt hại và mối quan hệ giữa lỗi với thiệt hại được yêu cầu.
Trước và sau khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu
| Nội dung | Khi giao dịch chưa bị tuyên vô hiệu | Sau khi giao dịch bị tuyên vô hiệu |
| Quyền sử dụng đất | Nếu việc chuyển quyền đã được đăng ký, bên nhận chuyển nhượng được ghi nhận trong hồ sơ đăng ký đất đai hoặc trên Giấy chứng nhận theo quy định | Quyền sử dụng đất được xử lý theo nguyên tắc khôi phục tình trạng ban đầu tại Điều 131, nhưng còn phải xem xét trường hợp bảo vệ người thứ ba ngay tình tại Điều 133 và tình trạng đăng ký của tài sản |
| Tiền đã thanh toán | Là khoản thanh toán thực hiện theo giao dịch | Bên nhận tiền về nguyên tắc phải hoàn trả lại cho bên đã giao theo Điều 131 |
| Hoa lợi, lợi tức đã thu | Được xử lý theo quyền, nghĩa vụ đang tồn tại trong thời gian giao dịch được thực hiện | Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả phần đó theo khoản 3 Điều 131 |
| Thiệt hại phát sinh thêm | Được xử lý theo quan hệ và nghĩa vụ tương ứng nếu có | Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường theo khoản 4 Điều 131 khi có đủ căn cứ |
Quy trình hoàn trả tài sản khi hợp đồng vô hiệu
Quá trình giải quyết hậu quả của một hợp đồng vô hiệu tại Tòa án thường trải qua các bước sau, dựa trên nguyên tắc tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015:
- Xác định giao dịch vô hiệu và căn cứ pháp lý áp dụng, ví dụ vi phạm điều kiện tại Điều 117, giả tạo theo Điều 124 hoặc nhầm lẫn theo Điều 126 Bộ luật Dân sự 2015.
- Xác định các bên đã nhận những gì từ giao dịch, gồm cả quyền sử dụng đất, tiền và tài sản khác nếu có.
- Đối chiếu khả năng hoàn trả bằng hiện vật; nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật thì xác định trị giá thành tiền để hoàn trả theo Điều 131. Việc xác định giá và thời điểm định giá cụ thể phụ thuộc loại yêu cầu, chứng cứ và hướng giải quyết của vụ án.
- Xác định bên có lỗi và mức độ thiệt hại thực tế phát sinh từ việc giao dịch vô hiệu.
- Tuyên nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường tương ứng; đồng thời xử lý hậu quả liên quan đến đăng ký đất đai, Giấy chứng nhận theo bản án, quyết định và quy định pháp luật có liên quan.
Case study thực tế
Theo Bản án số 06/2025/DS-PT ngày 08/01/2025 của Tòa án nhân dân TP Cần Thơ, một người mua đất tại Cần Thơ thỏa thuận nhận chuyển nhượng thửa đất với giá thực tế 1,9 tỷ đồng, nhưng bên bán chỉ dẫn nhầm vị trí thửa đất so với Giấy chứng nhận.
Sau khi hoàn tất chuyển nhượng và xây tường bao, bên mua mới phát hiện vị trí thực tế không đúng thửa đất được giới thiệu. Tòa án cấp phúc thẩm xác định lỗi thuộc về bên bán, có căn cứ áp dụng Điều 126 Bộ luật Dân sự 2015 để tuyên hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn và buộc bên bán hoàn trả 1,9 tỷ đồng.
Đối với khoản 757 triệu đồng, Tòa phúc thẩm cho rằng việc cấp sơ thẩm xác định đây là khoản bồi thường hậu quả hợp đồng vô hiệu chưa phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn, bởi nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi.
Tòa áp dụng mức lãi 10%/năm theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; số tiền tính theo thời gian thực tế gần 855 triệu đồng nhưng nguyên đơn chỉ yêu cầu 757 triệu đồng nên Tòa giữ mức này. Tòa cũng lưu ý rằng nếu xác định thiệt hại để bồi thường theo hướng chênh lệch giá đất thì phải có căn cứ định giá thích hợp, không thể suy đoán mức thiệt hại.
Một điểm cần lưu ý khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được chuyển nhượng qua nhiều bên: theo Án lệ số 90/2026/AL, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 21/5/2026 và công bố theo Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29/5/2026, trong vụ án hành chính.
Nếu việc cấp Giấy chứng nhận ban đầu có sai sót làm chồng lấn diện tích và người được cấp sai sau đó chuyển nhượng cho người thứ ba, người thứ ba được cấp đổi Giấy chứng nhận, Tòa án vẫn có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận đã cấp cho người thứ ba và có thể hủy một phần hoặc toàn bộ nếu có căn cứ.
Cần phân biệt rõ Án lệ 90/2026/AL giải quyết thẩm quyền của Tòa án trong vụ án hành chính về tính hợp pháp của quyết định cấp Giấy chứng nhận, không phải căn cứ để kết luận rằng mọi giao dịch của người thứ ba ngay tình theo Điều 133 Bộ luật Dân sự đều mất hiệu lực. Việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong tranh chấp dân sự vẫn phải được xem xét độc lập theo các điều kiện của Điều 133.
Hiểu lầm phổ biến
Một hiểu lầm thường gặp là cho rằng khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, bên bán đương nhiên được giữ lại toàn bộ tiền đặt cọc hoặc tiền đã nhận như một hình thức phạt. Theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, nguyên tắc là hoàn trả những gì đã nhận. Việc xử lý tiền đặt cọc phải căn cứ vào mục đích đặt cọc, thỏa thuận của các bên, nguyên nhân giao dịch chính không thực hiện được và hiệu lực của chính giao dịch đặt cọc; không mặc nhiên được giữ toàn bộ tiền cọc chỉ vì hợp đồng chuyển nhượng bị tuyên vô hiệu.
Một hiểu lầm khác là đánh đồng “bên ngay tình” tại Điều 131 với “người thứ ba ngay tình” tại Điều 133. Cần phân biệt hai cơ chế. Khoản 3 Điều 131 chỉ quy định bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả phần đó.
Còn Điều 133 là cơ chế riêng bảo vệ người thứ ba ngay tình: nếu tài sản đã được đăng ký, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch với người thứ ba không bị vô hiệu; trong trường hợp đó, chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba theo khoản 3 Điều 133 mà có quyền yêu cầu chủ thể có lỗi hoàn trả chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại nếu có.
Hướng Dẫn Thẩm Định Pháp Lý Đất Và Xử Lý Khi Bị Khởi Kiện Đòi Lại
Trước khi ký hợp đồng công chứng, người mua cần kiểm tra các điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng theo khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai số 31/2024/QH15, gồm: có Giấy chứng nhận trừ các trường hợp luật định; đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết hợp pháp.
Quyền sử dụng đất không bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án; đất còn trong thời hạn sử dụng; và quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tình trạng đồng sở hữu, tài sản chung và quyền định đoạt cần được kiểm tra riêng theo pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình.
Nếu sau này bị khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu hoặc đòi lại đất, trước hết cần xác định người mua có phải là một bên trực tiếp của chính giao dịch đang bị tranh chấp hay là người thứ ba nhận chuyển quyền trong một giao dịch tiếp theo.
Nếu người bị kiện chính là bên mua trong hợp đồng đang bị yêu cầu tuyên vô hiệu, họ không tự động được coi là “người thứ ba ngay tình” theo Điều 133 Bộ luật Dân sự. Điều 133 đặc biệt liên quan trường hợp đã có một giao dịch trước bị vô hiệu, tài sản đã được đăng ký và sau đó lại được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba. Đồng thời, bị đơn có thể xem xét quyền yêu cầu phản tố theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự nếu đáp ứng điều kiện luật định.
Thẩm định pháp lý đất trước khi công chứng
Khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng khi đáp ứng các điều kiện chung gồm: có Giấy chứng nhận trừ trường hợp luật định; đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án.
Quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật; quyền sử dụng đất không bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án; còn trong thời hạn sử dụng đất; và quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đây là căn cứ quan trọng mà người mua cần đối chiếu.
Nếu không đáp ứng điều kiện áp dụng cho trường hợp cụ thể thì người sử dụng đất có thể không đủ điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng; hệ quả đối với việc công chứng, đăng ký và hiệu lực giao dịch phải được đánh giá theo vi phạm cụ thể, không nên mặc nhiên đồng nhất mọi trường hợp không đáp ứng Điều 45 với giao dịch vi phạm điều cấm tại Điều 123 Bộ luật Dân sự.
Ngoài điều kiện tại Điều 45, người mua cần kiểm tra thêm tình trạng đồng sở hữu theo Điều 213 và Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015, cũng như chế độ tài sản vợ chồng nếu có, để xác định người ký có đầy đủ quyền định đoạt hay không. Giá giao dịch ghi trong hợp đồng cũng nên phản ánh đúng giá thực tế đã thỏa thuận, nhằm hạn chế rủi ro phát sinh tranh chấp về giao dịch giả tạo theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015.
Checklist thẩm định trước khi ký hợp đồng công chứng:
- Kiểm tra Giấy chứng nhận, thông tin thửa đất và thời hạn sử dụng đất đối với loại đất có thời hạn; đối chiếu với hiện trạng thực tế.
- Xác minh đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết theo quy định, quyền sử dụng đất không bị kê biên, không bị áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án và không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 45 Luật Đất đai 2024.
- Xác định người đứng tên có phải là người có đầy đủ quyền định đoạt hay còn đồng sở hữu, người có quyền đối với tài sản chung theo Điều 213, Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015 và pháp luật liên quan.
- Yêu cầu ghi giá chuyển nhượng đúng với giá thực tế đã thỏa thuận trong hợp đồng công chứng.
- Đối chiếu giấy tờ nhân thân, thông tin người chuyển nhượng và thẩm quyền ký với Giấy chứng nhận và hồ sơ có liên quan.
Quy trình thẩm định trước, trong và sau khi mua đất
Trước khi ký: kiểm tra điều kiện chuyển nhượng theo Điều 45 Luật Đất đai 2024 và tình trạng đồng sở hữu, thu thập các tài liệu cần thiết về Giấy chứng nhận, nhân thân và quyền định đoạt của bên chuyển nhượng để đối chiếu tại thời điểm công chứng.
Trong khi công chứng: đọc kỹ hợp đồng, đối chiếu giá chuyển nhượng với thỏa thuận thực tế, kiểm tra thông tin các bên và đề nghị công chứng viên giải thích khi có nội dung chưa rõ theo thủ tục của Luật Công chứng số 46/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025.
Sau khi công chứng: thực hiện đăng ký biến động theo pháp luật đất đai; đồng thời lưu giữ đầy đủ hợp đồng công chứng, chứng từ thanh toán, biên bản bàn giao đất và các tài liệu liên quan để làm căn cứ chứng minh quá trình giao dịch nếu phát sinh tranh chấp về sau.
Khi bị khởi kiện đòi lại đất, cần chứng minh gì
Nếu bị khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu và đòi lại quyền sử dụng đất, trước tiên cần xác định vị trí pháp lý của người bị kiện trong chuỗi giao dịch. Nếu đây chính là bên nhận chuyển nhượng của hợp đồng đang bị yêu cầu tuyên vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ của họ chủ yếu được xem xét theo căn cứ hiệu lực của chính hợp đồng và hậu quả giao dịch vô hiệu tại Điều 131.
Nếu tài sản đã trải qua một giao dịch trước bị cho là vô hiệu rồi tiếp tục được chuyển giao cho người khác thì mới cần đánh giá người nhận sau có thuộc trường hợp người thứ ba ngay tình được Điều 133 bảo vệ hay không.
Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
3. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình nếu giao dịch với người này không bị vô hiệu theo khoản 2 Điều này, nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến giao dịch được xác lập với người thứ ba hoàn trả chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại, nếu có.
Bản chất pháp lý của quy định này là bảo vệ sự ổn định của giao dịch trong những điều kiện luật định mà vẫn dành quyền yêu cầu đối với chủ thể có lỗi. Điểm dễ gây hiểu nhầm là nhiều người cho rằng chỉ cần đứng tên trên Giấy chứng nhận là đương nhiên được bảo vệ theo Điều 133.
Thực tế, đối với bất động sản đã đăng ký, phải có cấu trúc là giao dịch trước vô hiệu, sau đó tài sản được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký trước đó để xác lập, thực hiện giao dịch. Nếu không đáp ứng các điều kiện đó thì cơ chế bảo vệ tại khoản 2 Điều 133 có thể không được áp dụng.
Do đó, nếu thuộc tình huống người thứ ba theo Điều 133, người bị kiện cần thu thập chứng cứ thể hiện yếu tố ngay tình và việc mình căn cứ vào tình trạng đăng ký để xác lập giao dịch, như hợp đồng công chứng, chứng từ thanh toán, biên bản bàn giao đất và các tài liệu thể hiện tại thời điểm giao dịch không có dấu hiệu rõ ràng cho thấy việc đăng ký hoặc quyền của bên chuyển nhượng có vấn đề pháp lý.
Quyền yêu cầu phản tố nếu bên chuyển nhượng có lỗi
Khoản 1 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Khoản 2 Điều này quy định yêu cầu phản tố được chấp nhận khi nhằm bù trừ nghĩa vụ; nếu được chấp nhận sẽ loại trừ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của phía có yêu cầu; hoặc có liên quan với yêu cầu đang được giải quyết và việc giải quyết chung giúp vụ án được chính xác, nhanh hơn.
Vì vậy, nếu người bị kiện cho rằng nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có lỗi dẫn đến giao dịch vô hiệu và yêu cầu bồi thường đáp ứng điều kiện tại khoản 2 Điều 200 thì có thể xem xét đưa ra yêu cầu phản tố trong cùng vụ án, trên cơ sở khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 và các căn cứ bồi thường liên quan.
Nếu chủ thể bị cho là có lỗi không phải nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì cách đưa yêu cầu bồi thường phải được xác định theo đúng tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp cụ thể, không mặc nhiên được coi là yêu cầu phản tố.
Cần lưu ý về mặt thủ tục, theo khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nếu đưa ra sau thời điểm luật định, yêu cầu có thể không được tiếp nhận với tư cách yêu cầu phản tố trong vụ án đang giải quyết; việc có phải khởi kiện bằng vụ án khác hay xử lý theo thủ tục nào còn phụ thuộc nội dung yêu cầu và tình trạng tố tụng.
Hiểu lầm phổ biến
Một hiểu lầm phổ biến là cho rằng có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mình đồng nghĩa với việc đất tuyệt đối an toàn, không thể bị đòi lại. Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015 không bảo vệ mọi người chỉ vì họ đang đứng tên trên Giấy chứng nhận.
Cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình chỉ áp dụng khi có đúng cấu trúc giao dịch và các điều kiện mà khoản 2 Điều 133 quy định. Đối với người mua trực tiếp trong chính hợp đồng đang bị yêu cầu tuyên vô hiệu, việc đã sang tên không tự động biến họ thành người thứ ba ngay tình theo điều luật này.
Một hiểu lầm khác là cho rằng khi bị khởi kiện, người bị kiện chỉ cần chờ Tòa án tự xem xét mọi yêu cầu tài sản hoặc bồi thường của mình. Bị đơn cần chủ động đưa ra ý kiến, chứng cứ và, nếu muốn Tòa án giải quyết một yêu cầu phản tố độc lập đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, phải thực hiện quyền phản tố theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự trong thời điểm và điều kiện luật định.
Kết luận
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã công chứng vẫn có thể bị Tòa án xem xét và tuyên vô hiệu nếu không đáp ứng điều kiện tại Điều 117 hoặc thuộc các trường hợp vô hiệu cụ thể theo Bộ luật Dân sự 2015. Khi đó, hậu quả không phải là “mất trắng” một cách tuyệt đối: đối với các bên trực tiếp của giao dịch vô hiệu, hậu quả chủ yếu được xử lý theo Điều 131; nếu tài sản đã tiếp tục được chuyển giao cho người thứ ba thì phải xem xét riêng điều kiện bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133.
Để hạn chế rủi ro, người mua cần chủ động thẩm định điều kiện pháp lý của đất theo Điều 45 Luật Đất đai 2024, xác định đúng người có quyền định đoạt, ghi nhận đúng nội dung giao dịch và lưu giữ đầy đủ chứng cứ về quá trình thanh toán, bàn giao, công chứng, đăng ký. Khi tranh chấp đã phát sinh, việc xác định mình là bên trực tiếp hay người thứ ba trong chuỗi giao dịch có ý nghĩa rất lớn đối với căn cứ bảo vệ quyền lợi.
Đây là những nguyên tắc pháp lý chung, mức độ áp dụng cụ thể phụ thuộc vào hồ sơ và chứng cứ của từng trường hợp, nên không thể thay thế cho việc rà soát trực tiếp bởi luật sư. Nếu cần thẩm định một hợp đồng cụ thể hoặc xử lý một vụ việc đang có tranh chấp, có thể liên hệ Luật Quang Duy qua hotline 0367.996.696 để được tư vấn phù hợp với tình huống thực tế của mình.
